Thursday, June 22, 2017

TỰ DO BÁO CHÍ : VIỆT NAM ĐỨNG Ở ĐÂU TRÊN THẾ GIỚI ? (Trần Hà Linh - Luật Khoa Tạp Chí)




Posted on 20/06/2017

Bạn có thể nói báo chí Việt Nam nhất thế giới hoặc bét thế giới, tuỳ bạn tính từ dưới lên hay từ trên xuống.

Chỉ số tự do báo chí ổn định ở dưới đáy, bét bảng Đông Nam Á, thua Lào, kém xa Campuchia

Một trong những tổ chức xếp hạng tự do báo chí uy tín nhất thế giới, Reporters Without Borders (Phóng viên Không biên giới – RSF), xếp Việt Nam ở vị trí 175 trên 180 nước trên thế giới trong báo cáo gần nhất của mình.

Điều đó có nghĩa là báo chí Việt Nam chỉ tự do hơn được 5 nước, và đó là danh sách của những “thảm hoạ báo chí”: Trung Quốc, Syria, Turmekishtan, Eritrea, và… Bắc Triều Tiên. Trật tự này tương đối ổn định trong ba năm vừa qua.

Trong khi bạn có thể thở phào vì ít nhất còn hơn Bắc Triều Tiên thì tin buồn là chúng ta kém Lào đến 5 bậc, còn Campuchia đã nằm chót vót ở vị trí thứ 132. Điều đó có nghĩa là phạm vi tụt hậu của Việt Nam không còn có thể đo đạc ở tầm khu vực Đông Nam Á nữa, mà đã thu hẹp lại ở một khu vực nhỏ hơn, kém phát triển hơn, nơi chúng ta vẫn thường tự hào với địa vị “anh cả” của mình, đó là bán đảo Đông Dương.

Cần lưu ý rằng, khác với Việt Nam, người Campuchia có thể mở báo tư nhân và công khai chỉ trích chính quyền, mặc dù vẫn còn nhiều hạn chế.

Trong một bảng xếp hạng khác của Freedom House, tình hình đỡ tệ cho Việt Nam hơn một chút khi chúng ta xếp ngay trên Lào trong khu vực Đông Nam Á, với khoảng cách điểm chỉ là… 1/100. Luật Khoa sẽ có bài chi tiết hơn về bảng xếp hạng này.

Chấm Việt Nam 77.66 điểm trong thang điểm 100 (điểm càng cao thì mức độ tự do càng thấp), RSF cho biết: “Trong điều kiện báo chí đều nhận chỉ thị từ đảng Cộng sản, nguồn tin độc lập duy nhất là các bloggers và nhà báo công dân, những người phải chịu nhiều hình thức truy bức nặng nề, trong đó có cả việc bị công an thường phục hành hung”.

“Để biện minh cho việc bỏ tù họ [các nhà báo], Đảng đang gia tăng sử dụng các điều 88, 79, và 258 Bộ luật Hình sự, vốn quy định rằng việc ‘tuyên truyền chống nhà nước’, ‘hoạt động nhằm lật đổ chính quyền’, và ‘lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước’ phải bị trừng phạt bằng các án tù dài hạn”, báo cáo cho biết.

Top 10 nước kiểm duyệt tồi tệ nhất thế giới

Năm 2015, Committee to Protect Journalists (Uỷ ban Bảo vệ Nhà báo – CPJ) công bố báo cáo về 10 nước kiểm duyệt gắt gao nhất thế giới, và những cái tên xuất hiện trong danh sách này không khác 10 nước xếp cuối bảng xếp hạng của RSF là bao. Việt Nam, không có gì ngạc nhiên, nằm trong danh sách này.

Đánh giá về Việt Nam, CPJ cho biết, “Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức các cuộc họp bắt buộc hàng tuần với các toà soạn báo, đài, và truyền hình để ra chỉ thị về những đề tài nào cần nhấn mạnh hay kiểm duyệt trong các bản tin của họ. Những đề tài bị cấm gồm có hoạt động của các nhà bất đồng chính kiến và nhà hoạt động chính trị, sự chia rẽ phe phái trong nội bộ đảng Cộng sản, các vấn đề nhân quyền, và bất cứ thông tin nào đề cập tới sự khác biệt giữa hai miền Nam – Bắc – vốn từng chia rẽ [trong chiến tranh]”.

CPJ cũng nói rằng từ năm 2013, Việt Nam đã ban hành các quy định mới nhằm kiểm duyệt các nền tảng mạng xã hội, coi các hành vi đăng tải bất cứ bài báo, thông tin nào có biểu hiện “chống nhà nước” hoặc “gây hại đến an ninh quốc gia” đều là bất hợp pháp, kể cả đăng lại bài báo của nước ngoài.

Một trong 6 nước giam giữ nhiều nhà báo nhất thế giới

Một báo cáo khác của CPJ cho biết, tính đến ngày 1/12/2016, Việt Nam “đóng góp” 8 trong số 259 nhà báo đang bị giam giữ trên thế giới, xếp thứ 6 “toàn đoàn”.

Các nước giam giữ nhiều nhà báo hơn Việt Nam gồm có Thổ Nhĩ Kỳ (81 người), Trung Quốc (38 người), Ai Cập (25 người), Eritrea (17 người), Ethiopia (16 người). Iran đồng hạng với Việt Nam.

Trong danh sách 8 người có Nguyễn Hữu Vinh (Anh Ba Sàm), Nguyễn Thị Minh Thuý, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Nguyễn Đình Ngọc (Nguyễn Ngọc Già), Hồ Văn Hải (Hồ Hải), Đặng Xuân Diệu, Trần Huỳnh Duy Thức, và Hồ Đức Hoà.

Cần lưu ý rằng, khái niệm nhà báo (journalist) mà các tổ chức như CPJ dùng bao gồm cả các nhà báo công dân (citizen journalist), mà chúng ta hay gọi là blogger. Điều này khác với quan niệm phổ biến ở Việt Nam, vốn chỉ coi những người làm việc cho các toà báo chính thống, thậm chí phải có thẻ nhà báo, thì mới được gọi là “nhà báo”.

Các nhà báo trên đây đều bị bỏ tù vì những tội danh mà RSF đã nêu ở trên.




FREEDOM HOUSE : XẾP THỨ 177/198, VIỆT NAM VẪN HƠN LÀO VỀ TỰ DO BÁO CHÍ (Tô Di - Luật Khoa Tạp Chí)




Posted on 20/06/2017

Báo cáo Tự do báo chí (Freedom of the Press) năm 2017 của tổ chức Freedom House đã liệt Việt Nam vào nhóm các nước không có tự do báo chí, xếp thứ 177 trên thế giới và là một trong 5 nước có tự do báo chí tệ nhất khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Báo cáo này đánh giá mức độ cản trở báo chí của 198 quốc gia và vùng lãnh thổ, dựa trên 3 yếu tố cản trở tự do báo chí: các quy định pháp lý; tác động của chính trị và môi trường kinh tế.

Điểm số của mỗi nước dao động từ 0 đến 100 điểm, điểm số càng cao thì mức độ cản trở tự do báo chí càng lớn. Các nước được xếp vào ba nhóm: tự do (từ 0 đến 30 điểm), tự do một phần (từ 31 đến 60 điểm) và không tự do (từ 61 đến 100 điểm).

Việt Nam đạt 84 điểm, được xếp vào nhóm nước không có tự do báo chí.

Trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Việt Nam xếp thứ 37 trên 40 nước, rơi vào nhóm 5 nước có tự do báo chí kém nhất cùng với Triều Tiên, Trung Quốc, Lào và Thái Lan.

Bên cạnh đó, Freedom House cũng liệt Việt Nam vào nhóm các nước không có tự do (not free) trong hai báo cáo về Tự do mạng (Freedom on the Net) năm 2016 và Tự do trên thế giới (Freedom in the world) năm 2017.

Tự do báo chí Việt Nam tệ nhất châu Á
Freedom House bắt đầu đánh giá tự do báo chí từ năm 1980. Kể từ đó đến nay, chưa có năm nào báo chí Việt Nam được đánh giá là tự do hay tự do một phần.

Qua 37 năm, tự do báo chí ở Việt Nam ngày càng đi xuống. Năm 1993, Việt Nam đạt 71 điểm, sau đó giảm dần trong khoảng thời gian 1994 – 1995, còn 68 điểm, sau đó mức độ cản trở báo chí bắt đầu tăng dần đều dao động từ 80 đến 86 điểm.

Trong khi đó, báo chí ở một số quốc gia ASEAN ngày càng tự do hơn. Từ năm 1995 – 2016, Indonesia giảm mức độ cản trở tự do báo chí từ 74 xuống còn 49 điểm, Myanmar giảm từ 99 xuống còn 73 điểm, Philippines giảm từ 46 xuống còn 44 điểm.

Thời kỳ báo chí Việt Nam ít bị cản trở nhất là 1994 – 1995, đạt 68 điểm, tức là còn tự do hơn Indonesia (74 điểm) và Myanmar (99 điểm).

Nhưng kể từ đó, tình hình tự do báo chí của Việt Nam ngày càng tệ đi. Đỉnh điểm là thời kỳ 2014 – 2015 với 86 điểm.

Biểu đồ dưới đây so sánh mức độ tự do báo chí ở Lào, Myanmar và Việt Nam từ 1994 – 2016, theo số liệu của Freedom House. Lào và Việt Nam liên tục đi xuống trong nhiều năm. Tuy nhiên, từ năm 1994 – 2002, đường đồ thị của Lào gần như song song và cao hơn hẳn so với Việt Nam.

Myanmar kém rất xa so với Lào và Việt Nam trong khoảng 1994-2010. Sau đó, nước này đã tiến hành nhiều cải cách và thúc đẩy tự do báo chí.

Biểu đồ : So sánh mức độ tự do báo chí ở Lào, Myanmar và Việt Nam

Chính trị là rào cản lớn nhất của tự do báo chí ở Việt Nam
Theo báo cáo này, Lào và Việt Nam là hai quốc gia bị môi trường chính trị cản trở nhiều nhất trong khu vực ASEAN, cũng là hai nước độc đảng duy nhất ở khu vực này.

Mức độ chính trị ảnh hưởng đến tự do báo chí ở Lào và Việt Nam lần lượt là 34 và 33 điểm trên 40, điểm tối đa của tiêu chí này.

Tiêu chí này đánh giá mức độ tác động của chính trị đến nội dung của báo chí, bao gồm: sự độc lập trong biên tập nội dung, tiếp cận thông tin và nguồn tin, bị kiểm duyệt và tự kiểm duyệt, sự sôi động của các phương tiện truyền thông và đa dạng tin tức, khả năng tự do tác nghiệp của phóng viên quốc tế và địa phương, khả năng phóng viên bị trả thù như bị bắt cóc, đánh đập và đe dọa.

Trong báo cáo Tự do báo chí 2016Freedom House nhận xét đảng Cộng sản Việt Nam vẫn xem báo chí là công cụ tuyên truyền của đảng và chính sách của nhà nước. Chính quyền thường can thiệp trực tiếp hoặc kiểm duyệt nội dung.

Những chủ đề liên quan đến kêu gọi về cải cách dân chủ, tôn giáo, tố cáo tham nhũng, chiếm dụng đất đai hay chỉ trích mối quan hệ với Trung Quốc bị chính quyền kiểm duyệt và trừng phạt nhiều nhất. Các nhà báo được phép tố cáo về tham nhũng nếu nó phục vụ lợi ích của đảng, những chỉ trích công khai về nhà nước đều bị cấm.

Để tránh bị sa thải hay gặp các rắc rối pháp lý, rất nhiều nhà báo Việt Nam đã phải tự kiểm duyệt nội dung của chính mình. Các chương trình nước ngoài phải được dịch sang tiếng Việt để Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép trước khi phát sóng.

Cảnh sát thường sử dụng bạo lực, đột nhập, hăm dọa nhà và văn phòng của phóng viên để cấm viết về những chủ đề nhạy cảm.

Việt Nam và Lào là hai nước cản trở tự do báo chí nhiều nhất ở khối ASEAN.

Việt Nam “thành thạo” về sử dụng pháp luật để cản trở tự do báo chí
Việt Nam là một trong 8 nước “thành thạo” nhất thế giới về việc dùng pháp luật để cản trở tự do báo chí, đạt 30 trên 30 điểm, điểm tối đa của tiêu chí này. Các nước này bao gồm: Trung Quốc, bán đảo Crimea, Eritrea, Iran, Triều Tiên, Turkmenistan và Uzbekistan.

Tiêu chí này đánh giá mức độ mà các điều luật và quy định pháp lý ảnh hưởng đến nội dung báo chí và mức độ mà chính quyền sử dụng chúng để cản trở tự do báo chí.
Freedom House đã dẫn ra hàng loạt các quy định mà chính quyền Việt Nam ban hành để hạn chế tự do báo chí.

Chính quyền thường xuyên sử dụng các điều luật trong Bộ luật Hình sự (BLHS) để cản trở tự do báo chí: tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền (điều 79), tội tuyên truyền chống nhà nước (điều 88) và tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ nhằm xâm phạm lợi ích nhà nước, tổ chức, cá nhân (điều 258)

Tháng 3/2015, Tổng biên tập báo Người cao tuổi Kim Quốc Hoa bị cách chức và khởi tố hình sự theo điều 258. Do trước đó báo Người cao tuổi đã tiết lộ bí mật nhà nước về hồ sơ kê khai tài sản cá nhân của Phó Tổng thanh tra Chính phủ Ngô Văn Khánh, làm ảnh hưởng đến uy tín của một số cá nhân, tổ chức.

Người dùng mạng xã hội bị cấm chia sẻ các bài viết nhằm mục đích chống phá nhà nước, gây hại an ninh trật tự, an ninh quốc gia theo Nghị định 72/2013 của chính phủ về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng.

*
Tài liệu tham khảo




LIÊN HIỆP QUỐC PHÊ PHÁN ĐIỀU 88, KẾT LUẬN BLOGGER MẸ NẤM BỊ BẮT GIỮ TRÁI LUẬT NHÂN QUYỀN QUỐC TẾ (Trịnh Hữu Long)




Posted on 22/06/2017

Nhóm làm việc về bắt giữ tuỳ tiện (WGAD) của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc đã ra kết luận khẳng định blogger Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Mẹ Nấm) đã bị chính quyền Việt Nam bắt và giam giữ trái với luật quốc tế và cần phải được trả tự do ngay lập tức.

Kết luận này được đưa ra vào ngày 25/4 vừa qua trong phiên họp lần thứ 78 của AGAD.
Blogger Nguyễn Ngọc Như Quỳnh bị Công an tỉnh Khánh Hoà bắt và tạm giam từ ngày 10/10 năm ngoái. Bà bị khởi tố về tội “tuyên truyền chống nhà nước” theo Điều 88, Bộ luật Hình sự 1999.

Kết luận trên của WGAD được đưa ra sau khi họ nhận được thông tin về vụ việc này và không cho biết rõ nguồn tin. WGAD cũng đã liên lạc với chính phủ Việt Nam ngày 31/1 và yêu cầu chính phủ Việt Nam phản hồi trước các thông tin này không muộn hơn ngày 31/3.
Tuy nhiên, nhóm làm việc cho biết đến tận 13/4 chính phủ Việt Nam mới gửi phản hồi và được coi là “trả lời muộn” theo quy trình của Liên Hiệp Quốc. Theo đúng quy trình, WGAD có thể ra kết luận mà không cần quan tâm tới phản hồi của chính phủ Việt Nam.

Nhóm làm việc về bắt giữ tuỳ tiện của LHQ gồm 5 chuyên gia quốc tế về nhân quyền, được Hội đồng Nhân quyền bổ nhiệm theo nhiệm kỳ để tiến hành điều tra về các vụ bắt giữ bị cáo buộc là vi phạm pháp luật quốc tế. Hiện Tiến sĩ José Guevara, người Mexico, đang là chủ tịch của nhóm làm việc này. WGAD là một trong 56 nhóm làm việc/báo cáo viên đặc biệt (mandates) của Hội đồng Nhân quyền, cấu thành nên các thủ tục đặc biệt (special procedures) của cơ chế nhân quyền LHQ.

Kết luận của nhóm làm việc cho biết, Điều 88 BLHS mà Việt Nam dùng để cáo buộc bà Quỳnh là “quá rộng và mơ hồ”, đến mức việc áp dụng điều luật này sẽ “dẫn đến kết quả là áp đặt hình phạt cho những người chỉ thuần tuý thực hành quyền tự do quan điểm và tự do biểu đạt chính đáng của họ”.

Các chuyên gia luật học của nhóm làm việc không phủ nhận rằng quyền tự do ngôn luận có thể bị hạn chế trong các trường hợp mà ngôn luận đó có thể dẫn tới bạo lực hoặc ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, theo đúng luật quốc tế về nhân quyền. Tuy nhiên, kết luận cho biết, trong phản hồi của chính phủ Việt Nam không có bất kỳ bằng chứng nào về việc bà Quỳnh sử dụng hay kích động bạo lực hay có bất kỳ hành vi nào làm tổn hại an ninh quốc gia.
Điều 88 BLHS, theo nhóm làm việc, không hề phân biệt những hành vi bạo lực với việc thực hành quyền tự do ngôn luận một cách ôn hoà, và do đó không phù hợp với Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và Công ước quốc tế về các Quyền dân sự và Chính trị.

Một phiên họp của Hội đồng Nhân quyền LHQ tại Geneva, Thuỵ Sĩ. Ảnh: UN.

Kết luận cũng khẳng định những hành vi ngôn luận và hoạt động môi trường của bà Quỳnh hoàn toàn nằm trong phạm vi tự do ngôn luận, hội họp và lập hội được quy định tại hai văn kiện nêu trên. Vì chính phủ Việt Nam không cung cấp bất kỳ bằng chứng nào cho thấy bà Quỳnh sử dụng bạo lực hay đe doạ an ninh quốc gia, WGAD cho rằng “việc bắt giữ là nhằm hạn chế các hoạt động của bà Quỳnh với tư cách là một nhà hoạt động nhân quyền”.

Nhóm làm việc cũng cho biết, trong phản hồi của chính phủ Việt Nam có nhắc đến việc bà Quỳnh đã tham gia một tổ chức bất đồng chính kiến tên là “Người Việt yêu nước” từ năm 2009, rằng bà Quỳnh được một nhóm khủng bố tên là “Việt Tân” tài trợ để phát tán các tài liệu xuyên tạc và kích động người dân, và bà Quỳnh có kết hoạch tổ chức một cuộc “cách mạng đường phố” để lật đổ chính quyền.

Chính phủ Việt Nam không cung cấp cho WGAD một chứng cứ nào về những cáo buộc nêu trên. Nhóm làm việc cho rằng nếu chỉ dựa trên mối quan hệ giữa bà Quỳnh với Việt Tân thì không đủ để biện minh cho việc bắt giữ bà.

Việc tạm giam bà Quỳnh để điều tra, theo nhóm làm việc, cũng không thoả đáng vì bà Quỳnh không được trình diện trước toà để phản đối việc bị tạm giam. WGAD cho rằng việc tạm giam để điều tra chỉ nên được áp dụng nếu có căn cứ xác đáng về việc bị can sẽ bỏ trốn hoặc thay đổi các chứng cứ, và việc này cần phải được toà án quyết định, cũng như để ngỏ khả năng bà Quỳnh được tại ngoại hầu tra.

Một vấn đề nữa cũng bị nhóm làm việc phê phán là việc bà Quỳnh bị biệt giam và không được tiếp xúc với bất kỳ luật sư nào trong quá trình điều tra. Theo Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003 của Việt Nam, “trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia, thì Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra”. Nghĩa là bà Quỳnh không có được bất kỳ sự trợ giúp nào về pháp lý trong khoảng nửa năm bị điều tra.

Blogger Nguyễn Ngọc Như Quỳnh sẽ bị đem ra xét xử vào ngày 29/6 tới đây. Tuy nhiên, ngày 19/6, bà Nguyễn Thị Tuyết Lan, mẹ của bà Quỳnh, cho biết bà chưa nhận được giấy mời và được nhân viên toà án trả lời rằng đây là “phiên toà đặc thù” nên bà không được tham dự.